NGUYÊN LƯ ĐO MÀU BẰNG THIẾT
BỊ ĐIỆN TỬ
KS. Dương Tuấn Tùng
Màu
sắc sản phẩm đóng vai trò quan
trọng trong việc thiết kế sản phẩm. Trong
môi trường cạnh tranh ngày nay,
người tiêu dùng có nhiều chọn
lựa hơn, nên các nhà sản xuất không
thể bỏ qua sự việc là “Sức
hấp dẫn về màu sắc của sản
phẩm cũng đóng vai trò quyết định
đến quyết định mua hàng của người
tiêu dùng”. Đối với xe hơi cũng vậy, màu
sắc cho thấy vẻ sang trọng và quư phái của
chiếc xe. V́ vậy các hăng xe đă không ngừng phát
triển đưa ra các mẫu mă xe hiện đại,
tiện nghi và da dạng về màu sắc. Tuy nhiên, màu xe càng
đa dạng th́ càng khó quản lư, nhận biết và phân
biệt đối với những người hoạt
động trong lĩnh vực sơn ô tô. với sự
hỗ trợ của máy tích và các thiết bị chuyên dùng
th́ công việc lưu trữ và pha chỉnh màu sơn xe
cũng trở nên dễ dàng hơn. Trong phạm vi bài
viết sẽ đề cập đến nguyên lư nhận
biết màu hay đo màu của các thiết bị đo màu
bằng điện tử. Một thiết bị đóng
vai tṛ hết sức quan trọng trong việc thiết
lập các công thức màu sơn mới và pha chỉnh
những màu sơn đă có trên thị trường.
NHẬN
THỨC VỀ MÀU SẮC
Như
chúng ta đă biết nguyên lư của việc cảm nhận
màu sắc là do hiện tượng phản xạ ánh sáng.
Nguồn sáng tới là ánh sáng trắng (bao gồm các tia sáng
đơn sắc với những bước sóng khác nhau
từ đỏ, cam, vàng, xanh lá, xanh dương, tím)
chiếu vào vật thể cần quan sát. Tia sáng nào phản
xạ lại mắt người quan sát th́ người
quan sát cảm nhận được vật thể có màu
đó. V́ vậy màu sắc là vấn đề
về nhận thức theo cách hiểu chủ quan.
Khi mô tả với cùng một màu sắc,
mỗi người khác nhau sẽ diễn
đạt theo nhiều ý khác nhau, và họ
sẽ định nghĩa màu sắc đó
theo từ ngữ của riêng mình. Dựa
theo quan điểm kỹ thuật, một màu
sắc có thể được mô tả
bằng ba thuộc tính sau: Sắc màu, giá
trị và sắc độ.
§ Sắc
màu: là từ ngữ được
sử dụng để phân biệt giữa
các màu, ví dụ như đỏ, vàng,
xanh…
§ Giá
trị màu: là độ
sáng hay tối của một màu
§ Sắc
độ (đôi lúc còn được gọi
là độ băo hòa màu): là việc đo
sự khác biệt của một màu như
thế nào so với màu xám.
Cả ba
nhân tố của màu sắc này có thể
được kết biểu diễn bằng
đồ thị. Được kết hợp
trong hệ thống không gian 3 chiều gọi là không gian
màu.
CÁC KHÔNG GIAN MÀU
Năm
1931, Ủy Ban Quốc Tế về Độ Rọi “The
Commission Internationale d’Eclairage (CIE)”, đã
được thành lập để phát
triển sự hợp tác quốc tế,
cùng sự trao đổi thông tin trong các
quốc gia thành viên trên các lĩnh vực liên
quan đến khoa học hay các đề tài
về ánh sáng. Ủy Ban này xuất bản
các tiêu chuẩn cho cả hai yếu tố: Nguồn
sáng và các quy định cho người
quan sát và đưa ra một hệ thống
phương pháp cho phép hoàn tất một
số định nghĩa về màu sắc. Kể
từ lúc thành lập, CIE đã
được chấp nhận như một tổ
chức có uy tín về lĩnh vực
này, và cũng được Tổ
Chức Chứng Nhận Quốc Tế (ISO)
thừa nhận như một tiêu chuẩn quốc
tế. CIE đưa ra cơ sở đo màu cho
phép mỗi màu sắc có thể
được định nghĩa bởi bộ 3
giá trị hướng (tristimulus): X, Y và Z.
Các giá trị này được thay
đổi theo phương diện toán học,
việc đo dựa trên sự phản xạ
hoặc độ sáng Y và độ kết tủa
màu: x và y. Biểu đồ độ kết
tủa màu CIE 1931 được thể hiện
ở hình 2. Sự phản xạ hoặc độ
sáng: Y thì thẳng góc với biểu
đồ độ kết tủa màu “The CIE 1931 (x,y)
chromaticity diagram”.

H́nh 2. Chức năng phối màu.
=Tiêu chuẩn quan sát 2° (CIE 1931).
¡ Tiêu chuẩn quan sát bổ xung 10° (CIE 1964).
Những
giá trị của ba bước sóng phản hồi xác
định dựa trên những chức năng phối màu `X(l),`Y(l) và`Z(l) được quy
định vào năm 1931 bởi CIE c̣n được
biết đến là những giá trị của ba
bước sóng phản hồi XYZ.
Chúng thích hợp cho góc nh́n 4° hoặc thấp hơn và
được quy định để phản ảnh
vật thể bằng những công thức sau:

S(l): sự phân bố
năng lượng quang phổ tương đối
của vật chiếu sáng.
X10(l),`Y10(l),`Z10(l): chức năng phối màu cho tiêu
chuẩn quan sát bổ sung 2°.
R(l): hệ số
phản xạ của vật mẫu.

H́nh 3: Nguyên lư đo màu theo không gian màu
XYZ(RGB).
Từ các công thức
trên thông qua bộ vi xử lư ta có thể biểu diễn
một màu của vật thể thông qua ba thông số X
(Red-Đỏ), Y (Green-Xanh lá), Z (Blue-Xanh dương)
bằng những con số cụ thể. Nhờ nguyên lư này
mà có thể phân biệt được sự khác biệt
về màu sắc một cách chính xác.
Mặt
hạn chế chính của biểu đồ CIE 1931
là nó không đại diện đồng nhất cho
mỗi màu riêng biệt. Một đơn vị
của sự khác biệt màu trong sắc
thái đỏ (red) thì không giống như
đơn vị của sự khác biệt màu
trong sắc thái xanh lá cây (green) hay xanh
dương (blue). Một không gian màu đồng
nhất hơn được đề xuất
bởi CIE là không gian màu L*a*b . Không gian màu này đã
trở nên phổ biến nhất được
ứng dụng trong các máy đo màu. Hình 3 là hệ
thống L*a*b đại diện cho 3 mức tỉ
lệ với L biểu thị độ sáng-tối,
giá trị dương a biểu thị màu
đỏ (red), giá trị âm a biểu thị màu
xanh lá cây (green), giá trị dương b biểu
thị màu vàng (yellow) và giá trị âm b biểu
thị màu xanh dương (blue).


Phần lớn
người sử dụng khoảng màu này
nhận thấy rằng nó đặc biệt
hữu ích trong việc thiết lập các thông
số dung sai cho màu sắc.

H́nh 4: Không gian màu L*a*b
Nhiều
người sử dụng khoảng màu CIE L*a*b
cần đo màu sắc và sự khác
biệt màu sắc để mô tả sự
khác biệt màu sắc trong công việc đo
màu hàng ngày. Điều này dẫn
đến việc phát triển một định
nghĩa dễ hơn về hàm lượng
giác học CIE L*C*H*. Trong định nghĩa này,
sắc độ (C*) là khoảng cách so
với điểm tọa độ (0,0) trong khoảng
màu CIE L*a*b. Các màu sắc rơi vào trên
bất cứ vòng tròn có tâm điểm
gốc sẽ có cùng giá trị sắc
độ màu. Màu sắc (H) liên quan đến
vectơ (vector) được định nghĩa
bởi a* và b*. Tất cả màu sắc
rơi vào bất cứ đường
thẳng nổi lên từ tâm điểm gốc
sẽ có cùng góc độ màu, và do
vậy sẽ có cùng màu. Không gian màu Hunter Lab
được phát triển vào năm 1948 bởi R.S.Hunter
như là một không gian màu không đổi. Nó có thể
được đọc trực tiếp từ một
máy đo màu bằng quang điện (phương pháp ba
bước sóng phản hồi). Giá trị trong không gian màu
này được xác định bằng những công
thức sau:

X,Y,Z: Giá trị 3 tác nhân kích thích của
vật mẫu (cũng có thể sử dụng giá trị X10Y10Z10).
X0,Y0,Z0: Giá
trị 3 tác nhân kích thích của máy khuếch tán phản
xạ lư tưởng.
Sự sai khác màu
sắc ΔEH trong không gian màu Hunter Lab
được xác định bằng công thức sau:
![]()
ΔL, Δa, Δb: sự sai khác về
giá trị L, a, b giữa vật mẫu và màu muốn
đạt được.
Tóm
lại từ việc đo các bước sóng phản
hồi và qua các công thức tính của các không gian màu mà ta có
thể đo được giá trị chính xác của các
màu thông qua ba giá trị XYZ(RGB) hay L*a*b. Đây chính là nguyên lư
của các máy đo màu. Nó giúp người sử dụng có
thể thiết lập được công thức màu
mới từ những màu gốc sẵn có hay t́m ra dung sai
giữa các màu để từ đó pha chỉnh màu một
cách nhanh chóng và chính xác.
=============================================================